Tải sách – Hành trình về phương đông

Tự nhiên trong cả tháng nay được hơn chục người khuyến khích mình đọc cuốn sách này cho mở rộng thế giới quan… Và kết quả là tháng này đã nhai xong cuốn này :D Cũng thấy ra được nhiều thứ hay ho nên share cho bà con ai chưa đọc dó dịp đọc qua thử.

Ở cuối bài viết giới thiệu mình có để link down cả ebook lẫn audio book. Ai nạp được dạng nào thì down hen. Goodluck!

Tác phẩm “Life and Teaching of the Masters of the Far East” (1935), hồi ký của Dr. Baird T. Spalding (1857 – 1953). Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề Hành Trình Về Phương Đông.

Nguyên tác có tất cả sáu quyển ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư. Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái đoàn từ Anh sang Ấn, sự gặp gỡ giữa phái đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở Á châu, và ở dãy Hy Mã Lạp Sơn. Ba quyển sau là những ghi nhận riêng của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình. Sự trao đổi kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, với bản tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã trở lại Ấn độ sống đời ẩn sĩ. Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên cứu nghiêm túc với nhiều dữ kiện được phái đoàn ghi nhận đầy đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều độc giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này.
Những trích dẫn đặc sắc / Những lời nhận xét đặc biệt về sách

“Babu nhìn lên bầu trời đầy sao trầm ngâm:

Mọi vật trong vũ trụ đều quân bình tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi bé nhỏ đến những dãy thiên hà vĩ đại. Đời người quá ngắn, và luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Đâu mấy ai ý thức được sự phung phí hôm nay, dọn đường cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn, thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu biết thức tỉnh quan sát, ta có thể học hỏi biết bao điều hay. Tiếc rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh. Chỉ trong đau khổ, nhục nhã ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lý do luôn luôn có các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi.

- Ông nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ.

Babu thở dài:

- Đúng thế, chúng ta có tính hay quên, nên cứ phải học đi, học lại cái bài học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp, con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể bệnh hoạn, ta mới thấy khoẻ mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày, ta mới thấy giá trị của tự do. Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ý thức nguyên nhân đã gây nên bệnh đó, mà lại tiếp tục một đời sống như trước; do đó, ta cứ bị bệnh hoài.” (Trích từ chương III của sách).

Những nội dung khác

“Đông du” ngày nay đã trở thành một từ quen thuộc. Không chỉ đối với các nhà thám hiểm, khách du lịch, người khảo sát văn hóa, mà cả những nhà khoa học, nhà triết học. Nhưng chỉ chừng cách đây một thế kỷ thì vấn đề không còn đơn giản như vậy. Bấy giờ, với thói duy khoa học và cái nhìn Âu tâm luận, người ta coi phương Đông mà phần lớn là thuộc địa của người châu Âu, là một xứ sở lạc hậu, cần được khai phá văn minh. Bởi thế, mọi tiếp xúc, nghiên cứu học hỏi nền văn hóa thấp kém bản địa đều bị coi là kỳ quặc, thậm chí là xúc phạm.

Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách, của nhiều pháp sư, đạo sĩ rởm, họ được tiếp xúc với những vị chân tu sống ẩn danh ở thành phố hay trên rặng Tuyết Sơn. Nhờ thế, họ được chứng kiến, hiểu biết đúng đắn về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ như yoga, thuật chiêm tinh, các phép dưỡng sinh và chữa bệnh, quan niệm về cõi sống và cõi chết.

Sau những hoài nghi, choáng váng ban đầu, với sự trung thực trí thức, các nhà khoa học bắt đầu vỡ ra một chân lý tưởng như đơn giản “ngoài trời còn có trời”. Họ thấy cần phải xét lại các quan niệm về khoa học của mình, như tính khách quan, tính đếm được, tính thực nghiệm… Có thể có một thứ khoa học khác không hoàn toàn tuân theo các nguyên tác của phòng thí nghiệm, mà theo các định luật vũ trụ, nhưng trình độ hiện thời còn chưa chứng minh, giải thích được. Thành kiến dĩ Ân vi trung đã được tháo bỏ.

Đúng lúc một đối thọai cởi mở và chân thành đang sắp sửa hình thành giữa một bên là các nhà khoa học thực nghiêm châu Âu và bên kia là các đạo sĩ Ấn Độ, thì đoàn khoa học Anh quốc nhận được tối hậu thư của chính phủ là phải ngừng nghiên cứu và tức khắc hồi hương. Và muốn giữ được nguyên chức vụ thì họ phải im lặng, không phát ngôn về những gì họ đã chứng nghiệm ở Ấn Độ. Một vài nhà khoa học trong đoàn đã không chấp nhận. Họ ở lại Ấn Độ để tiếp tục nghiên cứu và cuối cùng trở thành tu sĩ. Trong số đó có giáo sư Spalding – tác giả cuốn sách này.

Những tiên cảm của các khoa học gia Anh quốc ngày nào nay đã trở thành hiện thực. Vật lý học hiện đại với vĩ mô vật lý và vi mô vật lý hạ nguyên tử đã mang lại quan niệm mới, sâu sắc hơn, về khoa học. Đặc biệt là quan niệm này lại tương ứng với quan niệm của đạo học phương Đông (Ấn giáo, Thiền học, Lão học…). Có thể thấy điều này trong những cuốn sách nổi tiếng Đạo của vật lý của F.Capra (Trẻ, in lần 2, 1999), Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Trẻ, in lần 2, 2000) và nhiều tác phẩm khác của Trịnh Xuân Thuận…

Như vậy, Hành trình về phương Đông nay đã trở thành một thông lộ. Tây và Đông đã gặp nhau. Khoa học và minh triết đã gặp nhau. Cái hiện đại và cái cổ xưa đã gặp nhau. Thế giới, vì vậy đã trở nên hài hòa hơn, phẳng hơn và, do đó, nhân văn hơn.

Đỗ Lai Thúy

Link download bản ebook:
Loại file: PRC

http://caulacbolamgiau.com/QuaTang/Hanh_Trinh_Ve_Phuong_Dong_PRC_Unicode.zip

Link download bản Audio Book:
Loại file: MP3
Giải nén rồi nghe trực tiếp từng phần, không phải ráp file lại.

http://www.mediafire.com/?7guabk5t1vsbbmo  <<< part 1

http://www.mediafire.com/?dk44pxi7blw6efn   <<< part 2

http://www.mediafire.com/?d4i9eqe09ebqr45   <<< part 3

 

Những trích dẫn đặc sắc / Những lời nhận xét đặc biệt về sách

“Babu nhìn lên bầu trời đầy sao trầm ngâm:

Mọi vật trong vũ trụ đều quân bình tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi bé nhỏ đến những dãy thiên hà vĩ đại. Đời người quá ngắn, và luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Đâu mấy ai ý thức được sự phung phí hôm nay, dọn đường cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn, thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu biết thức tỉnh quan sát, ta có thể học hỏi biết bao điều hay. Tiếc rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh. Chỉ trong đau khổ, nhục nhã ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lý do luôn luôn có các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi.

- Ông nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ.

Babu thở dài:

- Đúng thế, chúng ta có tính hay quên, nên cứ phải học đi, học lại cái bài học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp, con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể bệnh hoạn, ta mới thấy khoẻ mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày, ta mới thấy giá trị của tự do. Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ý thức nguyên nhân đã gây nên bệnh đó, mà lại tiếp tục một đời sống như trước; do đó, ta cứ bị bệnh hoài.” (Trích từ chương III của sách).

 

Những nội dung khác

“Đông du” ngày nay đã trở thành một từ quen thuộc. Không chỉ đối với các nhà thám hiểm, khách du lịch, người khảo sát văn hóa, mà cả những nhà khoa học, nhà triết học. Nhưng chỉ chừng cách đây một thế kỷ thì vấn đề không còn đơn giản như vậy. Bấy giờ, với thói duy khoa học và cái nhìn Âu tâm luận, người ta coi phương Đông mà phần lớn là thuộc địa của người châu Âu, là một xứ sở lạc hậu, cần được khai phá văn minh. Bởi thế, mọi tiếp xúc, nghiên cứu học hỏi nền văn hóa thấp kém bản địa đều bị coi là kỳ quặc, thậm chí là xúc phạm.


Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách, của nhiều pháp sư, đạo sĩ rởm, họ được tiếp xúc với những vị chân tu sống ẩn danh ở thành phố hay trên rặng Tuyết Sơn. Nhờ thế, họ được chứng kiến, hiểu biết đúng đắn về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ như yoga, thuật chiêm tinh, các phép dưỡng sinh và chữa bệnh, quan niệm về cõi sống và cõi chết.


Sau những hoài nghi, choáng váng ban đầu, với sự trung thực trí thức, các nhà khoa học bắt đầu vỡ ra một chân lý tưởng như đơn giản “ngoài trời còn có trời”. Họ thấy cần phải xét lại các quan niệm về khoa học của mình, như tính khách quan, tính đếm được, tính thực nghiệm… Có thể có một thứ khoa học khác không hoàn toàn tuân theo các nguyên tác của phòng thí nghiệm, mà theo các định luật vũ trụ, nhưng trình độ hiện thời còn chưa chứng minh, giải thích được. Thành kiến dĩ Ân vi trung đã được tháo bỏ.


Đúng lúc một đối thọai cởi mở và chân thành đang sắp sửa hình thành giữa một bên là các nhà khoa học thực nghiêm châu Âu và bên kia là các đạo sĩ Ấn Độ, thì đoàn khoa học Anh quốc nhận được tối hậu thư của chính phủ là phải ngừng nghiên cứu và tức khắc hồi hương. Và muốn giữ được nguyên chức vụ thì họ phải im lặng, không phát ngôn về những gì họ đã chứng nghiệm ở Ấn Độ. Một vài nhà khoa học trong đoàn đã không chấp nhận. Họ ở lại Ấn Độ để tiếp tục nghiên cứu và cuối cùng trở thành tu sĩ. Trong số đó có giáo sư Spalding – tác giả cuốn sách này.


Những tiên cảm của các khoa học gia Anh quốc ngày nào nay đã trở thành hiện thực. Vật lý học hiện đại với vĩ mô vật lý và vi mô vật lý hạ nguyên tử đã mang lại quan niệm mới, sâu sắc hơn, về khoa học. Đặc biệt là quan niệm này lại tương ứng với quan niệm của đạo học phương Đông (Ấn giáo, Thiền học, Lão học…). Có thể thấy điều này trong những cuốn sách nổi tiếng Đạo của vật lý của F.Capra (Trẻ, in lần 2, 1999), Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Trẻ, in lần 2, 2000) và nhiều tác phẩm khác của Trịnh Xuân Thuận…


Như vậy, Hành trình về phương Đông nay đã trở thành một thông lộ. Tây và Đông đã gặp nhau. Khoa học và minh triết đã gặp nhau. Cái hiện đại và cái cổ xưa đã gặp nhau. Thế giới, vì vậy đã trở nên hài hòa hơn, phẳng hơn và, do đó, nhân văn hơn.


Đỗ Lai Thúy

1 Comment
  1. Sau khi đọc xong thấy có khúc này, một ví dụ mà trong lớp học làm giàu có nói qua.


    Ram Gopal im lặng như suy nghĩ một điều gì, sau cùng ông lên tiếng :

    - Vì biết rằng của cải, vật chất là nguồn gốc của tội lỗi, cám dỗ nên tại đạo viện này mọi người chỉ được giữ một bộ quần áo trên mình và phải đoạn tuyệt với vật chất hoàn toàn. Còn lo giữ của tức là còn lo mất, quyến luyến vật chất như vậy thì làm sao giải thoát được. Giữ tiền bạc, của cải hay danh vọng có thể ví như đeo gông vào người, rồi nhẩy xuống sông, chắc chắn sẽ chìm chứ làm sao bơi lội cho được, phải thế không các bạn ?

    Giáo sư Mortimer lên tiếng :

    - Ông nói cũng có lý nhưng không hẳn tôn giáo nào cũng lánh xa của cải, vật chất. Đôi lúc họ cần những thứ này để làm các công việc như mua thực phẩm, xây cất thánh đường, v..v.. Tiền bạc có công dụng riêng của nó.

    Ram Gopal gật đầu :

    - Sử dụng tiền bạc đúng cách là một vấn đề còn để nó cám dỗ lại là một vấn đề khác. Chính đức Jesus đã dạy, “kẻ giàu có tu hành chẳng khác con lạc đà chui qua lỗ kim. Một người không thể thờ hai vua, ngươi thờ Chúa hay thờ tiền bạc”. Một người tu hành chân chính không thể nô lệ bạc tiền dưới bất cứ hình thức nào. Các ông chắc thắc mắc tại sao tôi cương quyết chủ trương tuyệt sở hữu, gặp nhau hôm nay cũng là một nhân duyên, tôi xin kể một câu chuyện để các ông hiểu tại sao con đường tu hành cho rằng tiền bạc, vật chất là trở lực lớn cho người tụ Câu chuyện như sau : “Một đệ tử quyết tâm cầu đạo, xin học với một đạo sự Sau thời gian học hành chăm chỉ, một hôm sư phụ có việc phải đi xa nên dặn học trò ở lại chăm lo tu hành. Học trò nghe theo lời thầy, thiền định sớm hôm không hề bê trễ, Vì nếp sống tu hành thanh bần, tu sĩ chỉ có độc mỗi một miếng khố che thân. Nhưng chiếc khố cứ bị chuột cắn rách hoài nên tu sĩ cứ lâu lâu lại phải đi xin một mảnh vải che thân khác. Dân làng thấy vậy, bèn biếu tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột. Tu sĩ đem con mèo về nuôi, từ đó chuột không dám lộng hành nữa, nhưng tu sĩ lại phải lo thêm một phần ăn. Ngoài thực phẩm chay tịnh, tu sĩ phải xin sữa để nuôi con mèo. Một tín đồ thấy vậy bèn tình nguyện dâng cúng tu sĩ một con bò cái để có sữa nuôi mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con bò nhưng nuôi được mèo lại không có rơm cho bò ăn. Do đó, ngoài thức ăn khất thực, tu sĩ lại phải đi xin rơm về nuôi bò. Dân làng thấy vậy bèn biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ trồng trọt, nuôi bò. Tu sĩ ra công cầy cấy nên rau trổ thật nhiều, bò ăn không hết, phải mang bán ngoài chợ. Miếng đất thật mầu mỡ sinh hoa lợi quá nhiều, tu sĩ làm không xuể, phải gọi người đến làng giúp. Lạ thay, miếng đất cứ thế sinh sôi nẩy nở, trồng gì cũng tươi tốt và chả mấy chốc trở nên một đồn điền trù phú. Tu sĩ có nhiều hoa lợi bèn xây một đền thờ to lớn, đẹp đẽ, thuê thợ khắc tượng, đúc chuông thật vĩ đại, nhưng thời gian tu hành không còn là bao vì tu sĩ phải lo trông nom đồn điền, lo sổ sách giao dịch buôn bán, kiểm soát nhân công trồng tỉa, rồi có tiền bạc phải lo đầu tư, bỏ vốn mua thêm đất đai, khai khẩn thêm nữa. Một hôm, sư phụ trở về không trông thấy túp lều đơn sơ nữa mà thay vào đó một ngôi đền tráng lệ, nô nức khách hành hương, trong đền ồn ào những tín đồ vừa cúng bái vừa buôn bán. Trông thấy sư phụ, tu sĩ mừng rỡ chạy ra chào. Sư phụ Ôn tồn hỏi tại sao lại có sự thay đổi như thế. Tu sĩ trả lời, ‘thưa thầy, thật tâm con muốn tu hành nhưng tại lũ chuột cứ cắn rách áo hoài. Để bảo vệ cái áo con nuôi mèo. Để có sữa cho mèo ăn, con phải nuôi bò, và để có rau nuôi bò, con phải canh tác. Rồi thì trúng mùa liên tiếp, sức con làm không xuể nên phải gọi thêm người làm giúp, rồi thì buôn bán thành công, tiền bạc nhiều thêm, con phải đích thân trông nom mọi việc. Sau đó con cho xây cất đền thờ to tát, đúc tượng thật vĩ đại, con còn mướn người lo việc cúng tế, nhang đèn cẩn thận’. Sư phụ thở dài, ‘xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tụ tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp, chỉ gây trở ngại cho việc thanh tụ Chỉ vì một cái khố rách mà con đã đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đã chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đã đi lệch lúc nào không hay, trói buộc vào các thứ đó rồi làm sao có thể thoát được ?’ ” ”

    Trích chương 7, gần cuối chương…

    Giờ thì hiểu phần nào bà con khuyến khích mình đọc. Và tớ vẫn tiếp tục con đường Làm Giàu một cách đẹp đẽ.

    Cảm ơn các bạn!

Leave a Reply

Bạn muốn trở thành một phần của Câu Lạc Bộ Làm Giàu Việt Nam?